[Cảnh báo]: Tiềm ẩn rủi ro khi “chia nhỏ” bất động sản để mua chung!

Nhiều chuyên gia đưa ra cảnh báo rủi ro về việc người bán chẻ nhỏ BĐS để bán cho nhiều. 

Nhiều người mua, ai là sẽ người sở hữu?

Hiện nay, một số sàn giao dịch BĐS tại Việt Nam cùng triển khai bán chung một căn nhà hoặc chung một miếng đất cho nhiều khách hàng. Đây là cơ hội để nhà đầu tư vốn mỏng vẫn có thể sở hữu loại tài sản này.

Nhiều người mua, ai là sẽ người sở hữu?

Tình trạng nhiều người cùng đầu tư một căn chung cư. Ảnh: Internet

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng nhận định rằng, đây là hình thức đầu tư tiềm ẩn nhiều rủi ro. 

Theo Phó trưởng Khoa Tài chính Trường Đại học kinh tế Tp.HCM, ông TS.Lê Đạt Chí, đây được xem là mô hình huy động vốn thay vì việc chứng khoán hóa BĐS.

Thực tế, trên thế giới có quy định riêng về việc một loại tài sản đầu tư được chứng khoán hóa. Theo đó, BĐS được đầu tư bắt buộc phải được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phong tỏa để xác định tất cả chủ sở hữu của BĐS sau khi giao dịch hoàn thành.

Điều này sẽ đảm bảo được quyền lợi và tránh các rủi ro có thể gặp phải cho người tham gia mua loại tài sản này. Việc phong tỏa được thực hiện với mục đích là tránh cho các đối tượng xấu có ý định tiếp tục mang tài sản đó để bán cho người khác. 

Ngoài ra, việc nhiều người đồng sở hữu một BĐS cũng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp. Câu hỏi đặt ra là nhiều người mua, ai là người sở hữu? Muốn bán BĐS thì ai sẽ là người quyết định?

Bởi trên thực tế, theo quy định của pháp luật hiện hành, một BĐS dù chỉ 1 người đứng tên thì người này cũng phải nhận được sự đồng ý từ chồng hoặc vợ của mình.

Việc nhiều người sở hữu cùng BĐS, vậy thì cần phải có được 51% sự đồng ý của các chủ sở hữu khác. Ví dụ: Nếu có 100 người sở hữu thì sẽ phải có 51 người đồng ý. Ngoài ra, cũng cần có thêm ý kiến của 50 người có liên quan khác là vợ/chồng của họ.

Điều này đồng nghĩa, nếu có càng nhiều người tham gia giao dịch, thì việc có được đủ 51% số người đồng thuận sẽ khó để thành công. 

Như ban đầu, TS.Lê Đạt Chí đã nhận định đây giống như mô hình huy động vốn. Nó có thể gây nên nhiều rủi ro hơn so với việc mua BĐS trả trước hay góp vốn dựa theo tiến độ thi công dự án… 

Cùng quan điểm với vị Tiến sĩ này, Luật sư Trương Thanh Đức thuộc Công ty Luật ANVI cũng cho rằng: Nhiều người khi mới nghe sẽ cảm thấy đây là hình tích đầu tư tích cực. 

Bởi khi được chia nhỏ giá trị, sẽ giúp nhà đầu tư giảm được rủi ro về việc “bỏ trứng vào cùng giỏ hàng”. Tuy nhiên, thực tế điều này rất dễ lẫn lộn với mô hình đa cấp, huy động vốn hay lừa đảo…

Nhiều người mua, ai là sẽ người sở hữu?

Đầu tư chung giúp giảm được rủi ro về việc “bỏ trứng vào cùng giỏ hàng”. Ảnh: Internet

Theo quy định của pháp luật, nhiều người có thể sở hữu chung một BĐS. Tuy nhiên, thực tế không có trường hợp nào tên cả 10 hay nhiều người sở hữu được ghi đầy đủ trên sổ đỏ.

Vậy thì chủ sở hữu chỉ có thể ủy quyền cho trưởng nhóm để làm người đại diện. Điều này giống như hoạt động ủy thác đầu tư. Trường hợp nếu gặp phải người xấu, lợi dụng kẽ hở pháp luật thì nhà đầu tư sẽ mất tiền. 

Đồng sở hữu BĐS, cần dựa vào nền tảng pháp lý

Việc chẻ nhỏ một BĐS để bán cho nhiều người là mô hình khá rủi ro cho người mua. Theo chuyên gia tư vấn cấp cao tại GIBC, ông Huỳnh Phước Nghĩa chia sẻ: Tại các nước khác trên thế giới, hoạt động mua bán BĐS kiểu này sẽ có một công ty đứng ra làm trung gian để thực hiện thay vì là chủ tài sản.

Tại Việt Nam, hoạt động kinh doanh này không bị pháp luật ngăn cấm. Tuy nhiên, cũng không có quy định hay chế tài nào có liên quan đến mô hình này. Vậy nên rủi ro khi đầu tư là điều rất dễ xảy ra.

Bởi nếu việc mua bán chỉ thông qua việc góp vốn có trên bản hợp đồng sẽ chỉ giống như cách hoạt động ủy thác hay góp vốn đầu tư. Đây là loại hình đầu tư không được quy định cụ thể về pháp lý nên dễ có rủi ro xảy đến trong các trường hợp tranh chấp, kiện tụng hay khiếu nại.

Đồng sở hữu BĐS, cần dựa vào nền tảng pháp lý

Ông Huỳnh Phước Nghĩa chia sẻ: “Ý tưởng hay mô hình kinh doanh nào cũng cần dựa trên nền tảng pháp lý.” Ảnh: Internet

Tuy nhiên, trong hiện tại các quy định của Việt Nam về điều này vẫn chưa có. Vậy nên khách hàng khi tham gia cần phải thật sự thận trọng. Trong trường hợp muốn đầu tư hay góp vốn, cần phải được xác định bởi cơ quan có thẩm quyền để giảm thiểu rủi ro.